(Đã dịch) Trùng Sinh Tây Ban Nha Đế Quốc - Chương 32: Tứ phương vân động?
"Tuyên ngôn của Quốc vương?" Đó là tiêu đề trang nhất của tờ "Đức Nhật báo" vào ngày 12 tháng 4 năm 1908. "Đối với công lao của Alfonso XIII, không ai có quyền phán xét hơn người dân Tây Ban Nha, bởi vì họ chính là những người trực tiếp chịu ảnh hưởng hoặc hưởng lợi. Sau quá trình điều tra kỹ lưỡng, tờ b��o này cuối cùng đã đưa ra kết luận rằng: trong mắt đại đa số người dân Tây Ban Nha, ông ấy là một vị quốc vương có khả năng đưa Đế quốc Tây Ban Nha trở lại thời kỳ trung hưng. Việc Hoàng đế Alfonso XIII lần này sử dụng hình thức thư ngỏ quả thực đã mở ra một hành động mới cho hoàng gia. Tiếp theo, liệu Quốc vương Edward VII của Anh sẽ ứng phó ra sao? Điều này thật sự khiến người ta mong chờ. Cùng với cuộc diễn tập quân sự chung giữa Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, tin rằng đại đa số phóng viên chắc chắn sẽ không bỏ lỡ cơ hội tường thuật trực tiếp sự kiện này. Mọi người càng thêm mong chờ ngày 20 tháng 4 sẽ đến thật nhanh."
"Người phụ nữ phía sau Quốc vương" – tiêu đề của tờ 《Times》 Anh quốc. "Hoàng đế Alfonso, sinh năm 1886, năm nay đã 22 tuổi. Phu nhân của ông là Patricia, con gái út của Thân vương Arthur, em ruột của Quốc vương Edward VII hiện tại của Anh quốc. Theo nguồn tin từ giới báo chí, ngay hôm qua, Hoàng hậu Patricia hiếm hoi triệu kiến các phu nhân quý tộc trong cung, đốc thúc họ vì sự hưng thịnh của Đế quốc Tây Ban Nha, các n��ng nên gần gũi hơn với dân thường, đối xử tử tế với người nghèo, và thành lập thêm nhiều tổ chức bảo vệ quyền lợi của phụ nữ. Nhằm giúp phụ nữ của đế quốc tự hào hơn khi sống tại Tây Ban Nha, và để Tây Ban Nha trở thành quốc gia tôn trọng phụ nữ nhất thế giới." Từ đây có thể thấy, Hoàng hậu Patricia không hề tỏ ra bất mãn vì bức thư ngỏ của Hoàng đế Alfonso. Bà vẫn tiếp tục thúc đẩy việc thành lập Hiệp hội Phụ nữ Tây Ban Nha nhằm bảo vệ phụ nữ. Có vẻ như, Hoàng hậu của chúng ta thực sự là một người say mê công việc, tất cả họ đều đang nỗ lực vì đất nước của mình." Rõ ràng, tờ báo Anh quốc này đang né tránh mối quan hệ căng thẳng giữa hai nước, mà cố tình đánh trống lảng sang vấn đề khác.
"Rất ít người dám chất vấn Quốc vương và Thủ tướng Anh quốc như vậy, quả thực có thể khen ngợi sự dũng cảm của Hoàng đế Alfonso. Từ bức thư ngỏ này, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng Quốc vương bệ hạ đã trưởng thành. Ngài không còn là cậu bé 11 tuổi vừa lên nắm quyền khi xưa, cũng không còn là vị quốc vương nhí 11 tuổi đã quyết định đổi đất với Anh quốc và được tán thưởng lớn nữa. Hiện tại, ngài đã trở nên khôn khéo và lão luyện hơn nhiều. Không biết liệu Sa hoàng Nicholas II của chúng ta có một ngày nào đó cũng gửi một bức thư ngỏ tương tự đến Hoàng đế Wilhelm II hay không?" Sa hoàng đã liên minh với Pháp vào năm 1892, và hiện tại Pháp lại liên minh với Anh vào năm 1904. Do đó, Sa hoàng bây giờ sẽ không còn quá kiêng dè Đức quốc nữa. Chỉ cần xem bản tin trên tờ 《Tiếng nói Sa hoàng》 này là có thể hiểu rõ mọi chuyện.
Tờ 《Le Figaro》 của Pháp đưa tin: "Cựu Quốc vương và Vương tử Bồ Đào Nha bị sát hại, nghi ngờ do Anh quốc ra tay. Ngay sau đó, việc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha kết minh đã khiến Anh quốc tức giận tột độ, cuối cùng trực tiếp phái chiến hạm đến Vịnh Biscay, Eo biển Iberia, và tiến thẳng đến eo biển Gibraltar gần bờ biển Địa Trung Hải của Tây Ban Nha để thị uy. Điều này đã đẩy làn sóng phản đối của người dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha lên mức cao nhất trong vài năm gần đây. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha không cam chịu yếu thế, cuối cùng đã quyết định chính thức mở cuộc diễn tập quân sự chung giữa hai nước vào ngày 20 tháng này, mở ra chiếc hộp Pandora này. Vậy, giữa ba quốc gia này, Pháp nên đi về đâu?"
Đây không chỉ là tin tức của riêng truyền thông Pháp, mà toàn bộ truyền thông thế giới đều đang đưa tin về sự việc này, trong đó tờ 《New York Times》 – tiên phong của công tác tuyên truyền tư bản chủ nghĩa – đưa tin sống động nhất.
"Năm đó, Nữ hoàng Tây Ban Nha đã tận dụng tâm lý 'gói gọn' (bao gồm, đổi nhỏ lấy lớn) để dùng Cuba và Philippines đổi lấy vùng đất rộng lớn của Tây Úc và New Zealand hiện tại. Cuộc sống của người Tây Ban Nha ở đó được coi là không kém gì so với mẫu quốc. Chắc hẳn Anh quốc hiện đang vô cùng hối hận không thôi. Từ đó có thể thấy, tầm nhìn của Quốc vương Alfonso quả thực rất xa rộng và chính xác, ngài là một cao thủ trong việc đầu tư dài hạn vào tư bản. Theo thống kê, trong những năm gần đây, lượng quặng sắt khai thác ở Tây Úc đã gấp ba lần so với mẫu quốc Tây Ban Nha. Nếu dùng để đóng chiến hạm, lượng thép tiêu thụ mỗi năm ít nhất phải tính bằng đơn vị mười vạn tấn. Điều hoàn toàn khác biệt là, mặc dù các vùng Đông, Nam, Bắc Úc không phát hiện ra bất kỳ mỏ quặng sắt lớn nào, điều này càng khiến người ta liên tưởng rằng Alfonso đã sớm có sự chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi nỗ lực giành lấy Tây Úc. Nếu không, tại sao trước đây ngài không đổi lấy bang Victoria hay Queensland, những nơi gần New Zealand hơn?"
Những năm gần đây, việc Mỹ và Tây Ban Nha tranh chấp từ xa đã là chuyện ai cũng biết. Theo lý thuyết, việc Tây Ban Nha và Anh quốc xảy ra xung đột là điều chính phủ Mỹ hoan nghênh. Tuy nhiên, trong dân gian lại là một cảnh tượng khác. Mỹ từng là thuộc địa của Anh, mặc dù ở đó có nhiều người da trắng gốc Anh, nhưng đại đa số họ chỉ là tù nhân bị lưu đày đến đây. Liệu một tù nhân có thể có tình cảm sâu đậm với chính phủ đã đày ải mình không? Điều này e rằng phải hỏi Tổng thống Mỹ Theodore Roosevelt lúc bấy giờ mới biết được. Nhưng nghĩ lại, có lẽ ông ấy sẽ không trả lời vấn đề nhạy cảm này.
Còn có một người vô cùng không muốn chứng kiến cục diện này, đó chính là Armand Fallières, Tổng thống đương nhiệm của Pháp. Bởi vì Pháp là một quốc gia theo chế độ tổng thống năm năm một nhiệm kỳ, và Armand Fallières bắt đầu nhiệm kỳ đầu tiên vào năm 1906, nên ông hiện đang tràn đầy nhiệt huyết. Tầm nhìn chính trị của ông không tệ; về vấn đề liên minh Pháp-Nga để đối kháng Đức, trước đây khi còn là Bộ trưởng Tư pháp Pháp, ông đã hết sức yêu cầu tổng thống đương nhiệm kéo Nga về phe mình. Bởi vì ông đã nhận thấy vào thời điểm đó, hai nước đồng minh vốn là Đức và Nga, do giới quý tộc Junker của Đức tranh giành thị trường nông sản Đức với Sa hoàng, cuối cùng Sa hoàng đã bị Đức cản trở việc nhập khẩu sản phẩm từ quốc gia mình vào thị trường nước ngoài. Ông phát hiện có cơ hội để nắm bắt, vì vậy đã thuyết phục rằng Pháp nên tận dụng thời cơ này để kéo Sa hoàng về phía Pháp. May mắn thay, Tổng thống Jean Casimir-Perier lúc bấy giờ cuối cùng đã lắng nghe đề xuất này, và quả thực đã thúc đẩy việc kết minh. Về việc liên minh Pháp-Anh, thái độ của ông càng kiên quyết. Năm 1899, khi ông được bầu làm Chủ tịch Thượng viện, ông đã dốc toàn lực để thực hiện những công việc to lớn, đến mức ông đã trở thành một trong ba nhân vật quyền lực nhất nước Pháp lúc bấy giờ, khiến Tổng thống Émile François Loubet khi đó phải tham khảo ý kiến ông trong mọi việc. Chính ông là người đã đề xuất liên minh với Anh quốc, và việc ký kết chính thức vào năm 1904 càng làm cho danh tiếng của ông ở Pháp thêm phần vang dội, đến nỗi vào năm 1906, khi tranh cử tổng thống, ông đã giành chiến thắng trước đối thủ Paul Doumer với số phiếu áp đảo 449:371. Và việc Anh quốc cùng Tây Ban Nha xảy ra cuộc đối đầu ngoại giao đã thu hút sự chú ý của nhiều quốc gia, trong đó, đáng lẽ ra quốc gia cần được chú ý nhất chính là Pháp, nước đang bị kẹt giữa ba quốc gia này. Vốn dĩ, với tư cách là đồng minh của Anh quốc, Pháp lẽ ra phải đứng về phía Anh. Tuy nhiên, chỉ cần những ai am hiểu địa lý đều biết rõ, nếu Pháp hành động như vậy thì hậu quả có thể sẽ rất nghiêm trọng. Pháp quốc bị Tây Ban Nha và Anh quốc bao vây ở ba phía, còn phía Bắc thì giáp với Đức. Điều này cực kỳ khó xử đối với Pháp – quốc gia đã trăm phương nghìn kế để vây hãm Đức và lôi kéo các đồng minh khác về phe mình. Vì sao? Bởi vì Tây Ban Nha ở phía Nam của Pháp, Đức ở phía Bắc, còn Anh quốc ở phía Tây, ngăn cách bởi biển. Theo hiệp ước đồng minh, nếu Anh quốc và Tây Ban Nha xảy ra xung đột, liệu Pháp có nên giúp hay không? Nếu giúp, cục diện an toàn nhất ở phía Nam của Pháp từ trước đến nay sẽ bị chính mình phá vỡ trong chốc lát. Chưa nói đến dân chúng, ngay cả Hạ viện và Thượng viện cũng tin rằng sẽ không có mấy người đồng ý. Bởi vì nếu trở mặt với Tây Ban Nha, khi đó Tây Ban Nha mà cùng Đức thực hiện một hiệp ước phòng thủ chung thì môi trường chính trị an toàn của Pháp sẽ đối mặt với một cuộc khủng hoảng lớn. Với gọng kìm tấn công từ Nam và Bắc, vận mệnh của Pháp sẽ vô cùng bi thảm. Vậy thì nếu bỏ mặc không can thiệp cũng không được, bởi vì nếu cứ để tình hình mất kiểm soát như vậy, cuối cùng vẫn sẽ rước họa vào thân. Xem ra, Pháp nên gấp rút tiến hành ngoại giao con thoi với hai nước mới phải. Tuy nhiên, trước khi họ kịp hành động, người Đức đã nhanh hơn một bước.
Ngày 15 tháng 4 năm 1908, còn 5 ngày nữa là đến cuộc diễn tập quân sự chung của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Vào ngày này, Madrid đã đón tiếp một vị khách quý có thân phận đặc biệt: đó là Đại thần tâm phúc của Hoàng đế Wilhelm II của Đức, Nguyên soái Hải quân Đế quốc Đức, người mà hậu thế xưng tụng là "Cha đẻ của Hải quân Đại dương Đức" – Alfred von Tirpitz. Một nhân vật huyền thoại. Từ nhỏ đã yêu biển rộng, ước mơ lớn nhất của ông là có một ngày có thể thành lập một hạm đội hải quân tầm cỡ thế giới, ngang tầm với Anh quốc, sau đó tung hoành trên các đại dương. Giấc mơ này cuối cùng dù không thành hiện thực, nhưng ông đã kiên trì để đưa hải quân Đức trở thành lực lượng hải quân đứng thứ hai thế giới. Hơn nữa, trong Đại chiến thế giới lần thứ nhất, ông còn khiến hải quân của cường quốc hải quân số một phải tan tác. Có thể thấy năng lực của ông không hề tầm thường. Vốn dĩ, với tư cách là một người có vai vế tương đương đến thăm, lẽ ra người ra mặt tiếp đãi lần này phải là Bộ trưởng Hải quân Silverado, hoặc Tổng Tham mưu trưởng Jack Osborn, hay Bộ trưởng Quốc phòng Lexton, những tướng lĩnh quân đội cấp cao nhất. Tuy nhiên, Tirpitz lần này đến với thân phận là Đặc sứ của Hoàng đế Đức. Thân phận này đã khiến địa vị của ông lập tức tăng vọt, trở thành hiện thân của Hoàng đế Đức. Nói cách khác, lời nói của ông chính là lời nói của Hoàng đế, đại diện cho không chỉ là một Nguyên soái Hải quân, mà là người thống trị tối cao của Đức – Hoàng đế. Vì vậy, Alfonso đã đích thân tiếp kiến ông.
"Đại danh của Nguyên soái Tirpitz, ta đã sớm kính ngưỡng từ lâu. Chỉ là bao năm qua vẫn chưa có duyên gặp mặt, quả thực vô cùng đáng tiếc." Alfonso ngồi ở vị trí chủ tọa. Dưới ông, bên cạnh là ba người trợ thủ đắc lực: một là Thủ tướng Eugen, bên dưới ông là Bộ trưởng Quốc phòng Đế quốc Lexton. Đối diện với họ, chính là Nguyên soái Hải quân Đế quốc Đức Tirpitz, vị khách quý đến thăm lần này. Ông đã gần sáu mươi tuổi, để bộ râu trắng dài, rậm rạp, uốn lượn như đuôi dê. Mặc dù đã ngoài lục tuần, nhưng nhìn dáng người thẳng tắp của ông, người ta biết ngay ông thực sự là một vị dũng tướng, dù là trên biển. Dưới ông là Jack Osborn.
"Bệ hạ quá lời rồi. Thần cũng ngưỡng mộ bệ hạ đã lâu. Hoàng đế Đức bệ hạ còn nói rằng lẽ ra ngài nên sớm hơn đến thăm Madrid mới phải. Đáng tiếc là, lẽ ra lần này ngài sẽ đích thân đến, nhưng vì trong nước có một vài tình hình phát sinh, nên mới phái thần với tư cách Đặc sứ để thay mặt ngài gửi lời thăm hỏi ân cần đến bệ hạ." Hai người không nói nhiều lời khách sáo, thực ra đều hiểu ý của đối phương, nhưng lại không muốn chính thức là người đầu tiên khơi mào chủ đề. Tuy nhiên, nếu không đề cập đến thì không biết đến bao giờ mới bắt đầu. Là một Tirpitz đến từ phương xa, một lão tướng của quân Đức, ông đương nhiên hiểu đạo lý "dục tốc bất đạt". Nhưng ông càng hiểu rõ đạo lý "tốc chiến tốc thắng". Rất nhiều người đều yêu thích những trận chiến "tốc chiến tốc thắng", và một người như vậy cũng dễ dàng đạt được sự tín nhiệm của người khác hơn, thay vì cứ tiếp tục dài dòng. Vì thế, ông đã quyết định "thả con tép, bắt con tôm" trước.
Thế giới văn chương này, qua bàn tay chuyển ngữ, xin được kính tặng riêng cho độc giả tại truyen.free.