(Đã dịch) Trung Thế Kỷ Quật Khởi - Chương 236: Ban bố luật pháp
Cả tháng Bảy, lãnh địa nam tước Thung Lũng đều vô cùng bận rộn. Với vai trò lãnh đạo cả quân đội lẫn dân chúng, Stuart ngày ngày không ngừng đi đi lại lại giữa doanh trại quân đội và lãnh địa.
Đến tuần thứ tư của tháng Bảy, Stuart cuối cùng cũng có một ngày nghỉ. Vốn định mang hai con chó săn hươu lên núi tiêu khiển một buổi săn, thì lại nhận được tin có một bằng hữu cũ đến Thung Lũng.
Vị khách đó chính là David Patrick, người anh em kỵ sĩ và là Cung đình Hộ vệ Kỵ sĩ của Stuart.
Từ khi chia tay ở Thor Bảo năm ngoái, đã hơn nửa năm họ chưa gặp lại. Lời hẹn gặp từ mùa xuân cứ thế kéo dài vài tháng, nhưng đến lúc gặp lại, Stuart đã trở thành nam tước.
Trong đại sảnh của Mộc Bảo Thung Lũng, Stuart cùng Oddo, Angus và vài vị chỉ huy quân đội khác đã cùng David và đoàn tùy tùng của anh ta tổ chức một bữa tiệc tối đơn giản.
Sau mấy chén bia thơm ngon, David bắt đầu trò chuyện với mọi người: "Nam tước đại nhân, quý tước sĩ, xin thứ lỗi vì đã thất hẹn. Từ đầu xuân năm nay đến giờ, ta vẫn luôn phải tác chiến với người Schwaben, thực sự không thể nào rảnh rỗi đến gặp ngài được." Ngay khi gặp mặt, David đã bày tỏ sự áy náy với Stuart.
Stuart cũng đại khái biết tình hình của David sau khi quay về phương Bắc. Từ Provence trở về, David, dưới lá thư tiến cử do Stuart tự tay viết, đã dùng năm ngàn Finney làm lễ vật để gõ cửa phủ đệ bá tước Borwin. Sau đó, bá tước Borwin đã tranh thủ cho David một phần thưởng quân công. Cung đình Hộ vệ Kỵ sĩ David Patrick, nhờ chiến công hiển hách tại Provence, đã được sắc phong một tòa thôn trang nằm ở biên giới phía Đông Bắc tỉnh Jona thuộc Bá quốc Burgundy làm đất phong. . .
". . . Thôi đành vậy, có được một khối đất phong đã là điều không dễ dàng rồi. Sau khi được thụ phong, ta đã đưa hài cốt của những người anh em tử trận cùng với tiền trợ cấp về quê hương, sau đó mang theo vài người anh em may mắn sống sót đến đất phong nhậm chức."
"Ta đoán rằng đất phong mà Cung đình ban cho sẽ không thể nào giàu có, bởi vì những đất phong màu mỡ thì làm sao có thể đến lượt một kẻ vô danh như ta được hưởng. Thế nhưng, điều khiến ta bất ngờ là nghe mọi người giới thiệu rằng vùng đất mà Cung đình phong cho ta lại vô cùng màu mỡ, thôn xóm cũng rất giàu có, có đến hơn một trăm hộ dân, hơn bốn trăm người sinh sống. Lúc đó, ta quả thực đã hưng phấn suốt mấy ngày."
"Thế nhưng chưa đầy hai ngày sau, ta đã không còn vui vẻ nổi nữa. Sau khi cẩn thận hỏi thăm, ta biết mình đã là vị lãnh chúa thứ ba của vùng đất đó trong vòng hai năm. Bởi vì hầu như mỗi khi vùng đất ��ó vừa mới khôi phục sinh khí, người Schwaben liền sẽ dẫn quân đến tập kích, quấy rối và cướp bóc một trận. Khi ta đến lãnh địa, dân chúng đã bỏ đi quá nửa, trong lãnh địa chỉ còn lại gần hai trăm người già yếu."
Stuart lắng nghe câu chuyện của David, lại liếc nhìn vũ khí và áo giáp tinh xảo trên người David cùng đoàn tùy tùng phía sau anh ta, liền đoán rằng vị kỵ sĩ dũng cảm này chắc chắn còn có nhiều chuyện đặc biệt để kể.
Stuart giơ tay lên, ra hiệu anh ta tiếp tục kể.
David bưng chén rượu lên, cụng nhẹ với Stuart và mọi người rồi uống một hơi cạn sạch. Anh ta dùng tay vuốt lên vết sẹo dữ tợn trên mặt, tiếp tục nói: "Ta cùng những người anh em đi theo ta đến lãnh địa nhậm chức đều là những kẻ sống sót trở về từ cõi chết, làm sao có thể khoan nhượng để người Schwaben ức hiếp, cướp đoạt lãnh địa của ta được. Rất nhanh, ta liền triệu tập hơn hai mươi thanh niên trai tráng còn lại trong lãnh địa, mua một lô vũ khí và áo giáp trang bị cho họ, sau đó không ngừng huấn luyện họ trong lãnh địa. . ."
"Rốt cuộc, vào đầu mùa xuân khi băng tuyết vừa tan chảy, chúng ta mai phục một toán người Schwaben đến cướp bóc, giết chết tám tên tại chỗ, và đánh lui hơn ba mươi tên còn lại. Trận chiến đó đã tiếp thêm tinh thần cho dân chúng. Rất nhiều dân chúng từng chạy nạn, sau khi nghe tin về chiến công của chúng ta, đã lũ lượt quay về cố hương. Rất nhanh, dưới trướng ta đã tập hợp được khoảng năm mươi thanh niên trai tráng. Hơn nữa, tu sĩ Chaucer trong lãnh địa của ta cũng đã gia nhập đội ngũ kháng địch, đại diện cho Thượng Đế hỗ trợ chúng ta đẩy lùi kẻ địch, bảo vệ gia viên."
David nói xong liền nghiêng người để Stuart nhìn thoáng qua vị tu sĩ gầy gò đang ngồi bên cạnh anh ta. Stuart gật đầu và khẽ cúi chào.
"Với sự bày mưu tính kế của tu sĩ Chaucer, chúng ta không những liên tiếp chống trả hai đợt trả thù từ người Schwaben, mà còn chủ động xuất kích, tập kích các trạm gác của quân đội Schwaben cùng vài doanh trại trú quân cỡ nhỏ, giết chết hơn ba mươi kẻ địch, thu về không ít vũ khí, áo giáp và tiền tài quân nhu. . ."
David kể lại những trận chiến khốc liệt và mạo hiểm nhất của họ, khiến các quan quân trong buổi yến tiệc đều nhiệt huyết sôi trào.
"Nam tước đại nhân, ta phải cảm ơn sự hào phóng của ngài. Nếu không phải ngài cho ta mượn hai vạn Finney tiền đó, ta cũng không thể nào gõ được cửa phủ đệ bá tước Borwin. Không có sự giúp đỡ của bá tước Borwin thì quân công của ta cũng chẳng ai công nhận, và việc có được đất phong cũng sẽ trở nên xa vời."
"Cũng may nhờ sự hào phóng của ngài, ta mới có đủ tài chính để triệu tập các thanh niên trai tráng, mua vũ khí và áo giáp trang bị cho dân chúng để chiến đấu với người Schwaben. . ."
David giơ chén rượu trong tay lên, đứng dậy cúi người thật sâu về phía Stuart, chân thành nói: "Stuart đại nhân, từ chiến trường Provence, ngài đã đưa bàn tay công lý ra cứu ta khỏi Địa Ngục Lửa, cho đến việc hào phóng giúp đỡ tiền bạc để chỉ lối cho ta. Không có ngài, sẽ không có ta và những người đồng đội đi theo ta ngày hôm nay. Chén rượu này xin thay cho tấm lòng kính trọng chân thành nhất mà ta dành cho ngài!"
David một hơi uống cạn chén rượu.
Stuart cũng giơ ly rượu lên đáp lễ rồi uống một ngụm.
"Lần này ta mang đến hai vạn Finney tiền mặt cùng một con chiến mã tịch thu được từ tay người Schwaben. Số tiền đó là để trả lại ngài, còn con chiến mã này coi như lễ vật mừng ngài tấn thăng nam tước." Lợi lộc từ chiến tranh thật phong phú, sau vài trận chiến đấu, túi tiền của David đã đầy lên, anh ta làm việc cũng trở nên hào phóng hơn.
Stuart lúc này đang thực sự thiếu tiền, nên cũng không khách sáo với David: "David tước sĩ, hai vạn Finney và con chiến mã này ta xin nhận. . ."
Đoàn của David cũng không dừng lại lâu tại lãnh địa nam tước Thung Lũng, bởi vì lần này anh ta xuống phía Nam là để đến Besançon bái phỏng bá tước Borwin. Bá tước Borwin đã bí mật giao cho David nhiệm vụ "huấn luyện binh sĩ, chuẩn bị chiêu mộ và điều động", nên anh ta phải vội vã quay về đất phong tiếp tục huấn luyện binh sĩ, sẵn sàng nhận lệnh chiêu mộ từ bá tước Borwin bất cứ lúc nào.
. . .
Vào cuối tháng Bảy, Stuart đã lần lượt tổ chức một cuộc họp nghị sự trong hệ thống dân chính và quân đội (được gọi là Quân Nghị Hội). Hai cuộc họp này chỉ để làm một việc duy nhất: công bố quân đội pháp lệnh và dân chính pháp điển.
Việc chiêu mộ tân binh còn chưa chính thức khởi động, nên số lượng quân đội hiện có không quá nhiều. Tất cả tổ trưởng tổ chiến đấu (cùng với các binh lính khác được hưởng đãi ngộ) và các sĩ quan dưới trướng Stuart đều đang được huấn luyện tại Học Viện Quân Quan, vì vậy không cần phải triệu tập từ nơi khác. Tại Quân Nghị Hội, Stuart đã tự mình ký duyệt và công bố « Quân Đoàn Pháp Lệnh ».
« Quân Đoàn Pháp Lệnh » được chia làm ba phần lớn, bao gồm Mười Tám Điều Cấm, Mười Lăm Điều Trị Quân, và Sáu Điều Thưởng Phạt.
Quan trọng nhất trong quân pháp là Mười Tám Điều Cấm, bao gồm "Năm Trảm, Sáu Quất, Bảy Phạt".
"Năm Trảm" tức là trong thời chiến, chống lại quân lệnh sẽ bị chém đầu; trong thời chiến, bỏ chạy khỏi trận địa sẽ bị chém đầu; trong thời chiến, làm nhiễu loạn quân tâm sẽ bị chém đầu; trong quân, tư đấu gây chết người sẽ bị chém đầu; tự ý cất giấu số tiền chiến lợi phẩm lớn sẽ bị chém đầu.
"Sáu Quất" chỉ sáu trường hợp bị trừng phạt bằng quân côn: thường ngày chống đối cấp trên; trong quân tư đấu làm người bị thương; trộm cắp vật phẩm quân tư; trong thời chiến làm mất vũ khí trang bị; trong huấn luyện gian lận, dùng mánh khóe; ức hiếp lương dân, cùng với những trường hợp cấp trên cho rằng cần phải chịu roi phạt. Trong thời chiến hoặc tình trạng khẩn cấp, hình phạt "Sáu Quất" có thể được cấp trên nâng lên thành chém đầu.
"Bảy Phạt" ám chỉ bảy hình phạt nhẹ như không được hưởng quân bổng hoặc bị giam giữ cấm đoán, ví dụ như sĩ quan không đạt yêu cầu về chữ viết; binh sĩ huấn luyện chưa đạt mục tiêu; binh sĩ tranh công đoạt lợi lẫn nhau; hành quân, bày trận gây ồn ào, v.v.
Mười Lăm Điều Trị Quân thì bao gồm tiêu chuẩn nội dung huấn luyện binh sĩ, kỹ xảo chiến trận, chế độ đãi ngộ quân bổng cho binh sĩ, bảo dưỡng và phân phối vũ khí, áo giáp, hành quân, đóng trại, tuần tra, gác gác, tập trung và vận chuyển quân nhu cho quân đội, cùng các hạng mục công việc quản lý thường nhật khác.
Sáu Điều Thưởng Phạt thì bao gồm cách tính toán quân công cho binh sĩ và sĩ quan, tiêu chuẩn phát thưởng quân công, yêu cầu về quân công để thăng chức, thăng cấp, tiêu chuẩn phạt giáng chức, giáng cấp, v.v.
To��n bộ « Quân Đoàn Pháp Lệnh » chưa đến năm mươi điều, nội dung đơn giản, dễ hiểu, không hề có những lời văn rườm rà hoa mỹ.
Stuart yêu cầu tất cả chiến binh và sĩ quan từ cấp tổ trưởng tổ chiến đấu trở lên phải học thuộc lòng « Quân Đoàn Pháp Lệnh », hơn nữa sau đó nhất định phải truyền đạt nội dung pháp lệnh cho tất cả binh sĩ dưới trướng mình. Sau này, việc huấn luyện tân binh cũng sẽ bổ sung thêm một hạng mục là nắm vững nội dung của « Quân Đoàn Pháp Lệnh ». . .
. . .
So với « Quân Đoàn Pháp Lệnh » đơn giản, dễ hiểu và thưởng phạt nghiêm minh, thì bộ pháp điển của hệ thống dân chính lại phức tạp và rườm rà hơn nhiều.
Bộ luật do dân chính ban bố được đặt tên là « Lãnh Địa Pháp Điển », liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau như phân phối đất đai, thu thuế, binh dịch, lao dịch, duy trì an ninh trật tự, công xưởng, thương nghiệp, v.v.
Trong « Lãnh Địa Pháp Điển », có bốn lĩnh vực quan trọng nhất.
Thứ nhất là phân phối đất đai. « Lãnh Địa Pháp Điển » quy định rõ ràng rằng hai khối đất phong thuộc lãnh địa nam tước Thung Lũng đều thuộc về nam tước biên cương Cung đình Stuart Wood Welles. Dân tự do (lĩnh dân) trong lãnh địa, với điều kiện thực hiện nghĩa vụ đất đai, sẽ được hưởng "quyền phân đất" để thuê canh tác đất của lãnh chúa suốt đời. "Quyền phân đất" được tính dựa trên số nhân khẩu làm nông. Mỗi hộ nông dân có thể nhận được số lượng đất đai tùy thuộc vào số nhân khẩu tham gia làm nông trong gia đình. Việc phân phối đất thuê cụ thể do dân chính quản lý, nhưng nhất định phải dựa trên nguyên tắc công bằng, chính trực.
Những lĩnh dân được hưởng "quyền phân đất" là một giai cấp nằm giữa nông nô và trung nông. Họ có được thân phận tự do, nhưng không sở hữu đất đai tư nhân. Mỗi lĩnh dân tự do có khả năng canh tác, đã tuyên thệ trung thành với lãnh chúa và thực hiện nghĩa vụ của lĩnh dân, đều có thể nhận được một phần đất đai từ lãnh chúa. Lĩnh dân được phân đất sẽ tự quản lý và canh tác. Nếu lĩnh dân mất khả năng canh tác, từ chối thực hiện nghĩa vụ đất đai hoặc vi phạm « Lãnh Địa Pháp Điển », thì lãnh chúa có quyền vô điều kiện thu hồi phần đất đã phân.
Ngoài "quyền phân đất" được áp dụng phổ biến nhất, « Lãnh Địa Pháp Điển » còn quy định một số chế độ phân phối đất đai đặc thù, tức là "quyền đất công lao", "quyền đất ân ban" và "chế độ đất công".
"Quyền đất công lao" chủ yếu dành cho binh sĩ và sĩ quan quân đội cùng với các quan viên dân chính (trong những trường hợp đặc biệt, dân thường cũng có thể được hưởng). Trong các trường hợp bị thương khi chiến đấu, giải ngũ, tử trận hoặc đạt được công tích trọng đại, sẽ được lãnh chúa tự mình ban tặng đất công lao. Đất công lao sẽ thuộc sở hữu tư nhân của người được hưởng. Người nắm giữ đất công lao chỉ cần nộp thuế chiến tranh, còn các loại thuế khác đều được giảm miễn. Đất công lao có thể được thừa kế theo một quy trình nhất định. Thổ địa vĩnh viễn mà Stuart từng ban tặng cho các binh sĩ tử trận hoặc bị thương (giải ngũ) chính là "Đất công lao".
"Quyền đất ân ban" về bản chất chính là "quyền phân đất" của lĩnh d��n, nhưng "đất ân ban" trong một thời hạn nhất định sẽ được hưởng các quyền lợi như giảm miễn thuế và tiền thuê đất. Những nhóm lĩnh dân đầu tiên nhận được "đất thuộc về mình trong năm năm" chính là những người được hưởng "quyền đất ân ban". Họ thuê đất canh tác và được hưởng mức giảm miễn thuế đất trong vòng mười năm.
"Đất công" là đất đai thuộc trực tiếp quyền sở hữu của dân chính, do dân chính bỏ vốn thuê nông hộ hoặc trưng tập tù binh chiến tranh (tội phạm được cải tạo) để canh tác. Toàn bộ thu hoạch cây trồng sẽ thuộc về dân chính, và do dân chính thống nhất điều phối sử dụng.
Thứ hai là việc thu thuế. Khi lãnh địa nam tước Thung Lũng mở rộng cả về đất đai và dân số, thuế đất sẽ trở thành một nguồn thu nhập tài chính quan trọng của lãnh địa. Vì vậy, Stuart đã nâng mức thu thuế đất, chia thuế đất của lãnh địa thành thuế địa tô (một phần mười), thuế đầu người (một phần mười), thuế trị an (mức thấp), thuế xây dựng lãnh địa (mức thấp), cùng với thuế thập nhất thu thay cho giáo hội.
Thứ ba là vấn đề phục dịch. Stuart quyết tâm xây dựng một đội quân chủ yếu dựa trên chế độ quân thường trực trong lãnh địa, với nòng cốt là quân đội chuyên nghiệp, được bổ trợ bởi lính trưng tập tạm thời (nông binh). Vì vậy, trong « Lãnh Địa Pháp Điển », việc nộp thuế khiên bài đã thay thế cho bốn mươi ngày binh dịch hàng năm của lĩnh dân. Số thuế thu được này sẽ dùng để nuôi dưỡng quân đội. Đồng thời, pháp điển cũng quy định rằng lĩnh dân nhất định phải tham gia huấn luyện có thù lao theo sắp xếp (được huấn luyện quân sự trong một thời gian nhất định, lãnh chúa sẽ cung cấp lương thực và tiền lương mang tính tượng trưng cho các lĩnh dân được huấn luyện) và phải vô điều kiện hưởng ứng lệnh chiêu mộ trong tình trạng khẩn cấp (trong tình trạng chiến tranh hoặc khi lãnh địa bị đe dọa, phải vô điều kiện hưởng ứng lệnh triệu tập). Đồng thời, đối với vấn đề lao dịch của lĩnh dân, « Lãnh Địa Pháp Điển » cũng đưa ra quy định. Để nông hộ chuyên tâm canh tác sản xuất, Stuart cho phép lĩnh dân nộp thuế thuê dịch thay thế cho việc lao dịch. Chỉ cần nộp thuế, lĩnh dân sẽ không cần phải bỏ dở việc nhà nông để bị cưỡng chế làm công cho lãnh chúa, mà số thuế thuê dịch mà họ nộp sẽ được dùng để thuê công nhân làm các công việc lao dịch.
Thứ tư là vấn đề trị an. Đối mặt với dân số lãnh địa tăng mạnh và vấn đề trị an ngày càng nghiêm trọng, « Lãnh Địa Pháp Điển » quy định lĩnh dân nhất định phải tuân thủ các quy tắc hành vi, các biện pháp trừng phạt khi vi phạm quy tắc pháp luật, v.v.
Đi kèm với nội dung pháp điển trị an là việc thành lập hai cơ quan: quan trị an và quan tòa lãnh địa. Quan trị an do chỉ huy trưởng quân đoàn thủ bị Thung Lũng kiêm nhiệm, các nông binh thường trực của quân đoàn thủ bị sẽ kiêm nhiệm vai trò binh sĩ trị an. Quan tòa lãnh địa do quan viên dân chính kiêm nhiệm, phụ trách xét xử, định tội, cân nhắc mức hình phạt và giải thích pháp điển.
« Lãnh Địa Pháp Điển » được viết trên những tấm da dê, và được truyền khắp các nơi trong lãnh địa để tuyên đọc.
Toàn bộ quyền lợi về bản dịch này đều thuộc về truyen.free.