Menu
Đăng ký
Truyện
← Trước Sau →
Truyen.Free

(Đã dịch) Lộc Đỉnh Nhậm Ngã Hành - Chương 171: Đến Đông Bắc Chung Quỳ cầm quỷ (21)

Sau khi kế hoạch "Macao luyện binh" của Vi Nhân bước đầu định hình, ông đã cử Thi Lang lên kinh tấu trình các công việc liên quan đến quân chế của "Ngoại tịch binh đoàn", "Hỏa Thương doanh" và việc lập kế hoạch kinh phí. Đồng thời, Thi Lang cũng trình lên "Mười chín điều quy tắc thao luyện tân binh" do chính Vi Nhân soạn thảo.

Không lâu sau đó, Khang Hi theo mật tấu của Vi Nhân, lại hạ mật chỉ đồng ý toàn bộ công việc "Macao luyện binh", đồng thời bổ nhiệm Vi Nhân làm đại thần luyện binh, toàn quyền phụ trách công tác huấn luyện tân binh. Khang Hi còn ngầm xuất từ nội vụ phủ mười vạn lượng bạc ròng làm kinh phí ban đầu cho việc thành lập đội quân tân binh, và theo ý kiến của Vi Nhân mà điều Thi Lang đến Hạ Môn nhậm chức, phụ trách công tác chuẩn bị quân sự đối với Trịnh thị Đài Loan.

Ba tháng trôi qua, trại huấn luyện đã tổ chức lễ thành lập quân đội.

Rạng sáng ngày 27 tháng 7 dương lịch, vô số bó đuốc đã tụ tập tại một bãi đất trống cạnh trại huấn luyện. Những bó đuốc với dải lụa đỏ phấp phới, cùng với khuôn mặt trang trọng nghiêm túc, ánh mắt sáng ngời có thần và thân hình cao ngất của các binh sĩ, tất cả đều không giấu nổi sự phấn khích mãnh liệt, háo hức chờ đợi đại lễ bắt đầu.

Thôn Phù Lệ có một bãi cỏ rộng lớn tựa như quảng trường tự nhiên, nơi đây sẽ diễn ra buổi lễ long trọng thành lập đội quân "tân binh". Đây là một vùng nông thôn yên bình và xinh đẹp, với những cây nhãn cao lớn trĩu quả xen kẽ giữa các ngôi nhà mái tranh, mái ngói, cùng những rừng trúc xanh ngắt vút cao. Hôm nay, thôn trang vốn thanh lệ, điềm tĩnh này bỗng trở nên rộn ràng với cờ xí tung bay phấp phới; trên những cột tre quanh bãi cỏ lớn treo dài những chiếc đèn lồng đỏ, khiến khung cảnh trở nên lộng lẫy, rực rỡ như đêm tân hôn.

Trên bãi cỏ lớn, khán đài duyệt binh đã được dựng sẵn. Phía sau khán đài treo hai lá cờ lớn chéo nhau, một bên là Quân kỳ Hoàng Long của Đại Thanh, bên còn lại là quân kỳ của "Tân binh". Vi Nhân, chịu ảnh hưởng từ kiếp trước, yêu mến lịch sử vẻ vang và công lao hiển hách của đội quân nhân dân, một đạo quân uy vũ và văn minh, nên cũng yêu thích quân kỳ của họ. Bởi vậy, ông vẫn chọn màu đỏ làm nền, vì nó là màu của nền văn minh Hoa Hạ 5000 năm, khơi gợi tình cảm sâu sắc của người Hoa đối với sắc đỏ. Trong tâm thức người Trung Hoa, màu đỏ tượng trưng cho mọi điều tốt đẹp. Để thể hiện rõ tình cảm chân thành ấy, người ta dùng màu đỏ trang hoàng mọi ngóc ngách của cuộc sống. Màu đỏ mang đậm đặc trưng văn hóa dân tộc, truyền thống và tính đại chúng trong lòng người Hoa, do đó nó đã hòa quyện vào mọi khía cạnh đời sống của họ. Màu đỏ thể hiện sự trang nghiêm vĩnh hằng, những gian khổ và thăng trầm của dân tộc Trung Hoa, đồng thời biểu lộ lòng tự tôn dân tộc mạnh mẽ, tinh thần vươn lên hăng hái, bất khuất, không ngừng ti��n tới. Nó cũng là biểu tượng của sức mạnh đoàn kết giữa quốc gia, dân tộc và quân đội, tượng trưng cho lòng trung thành tuyệt đối của nhân dân và quân đội. Sắc thái thuần khiết và đậm đà ấy càng làm nổi bật sự thiêng liêng này. Màu đỏ tượng trưng cho nhiệt tình, sức sống, sự kiên định, chân thành và chính nghĩa. Trong tất cả các sắc màu, màu đỏ có sức lay động mạnh mẽ nhất, đầy uy lực và cuồng nhiệt. Vi Nhân nhận định màu đỏ trong quân đội đại diện cho máu đào, sự vĩ đại, lòng trung thành, nhiệt huyết và chiến thắng. Trung tâm quân kỳ là hình Kim Long vàng đang bay lượn. Màu vàng là màu da của người Hoa, Rồng là linh vật biểu tượng của người Hoa. Trong đó, đầu rồng há miệng ngẩng lên, ở góc trên của quân kỳ là một mặt trời nhỏ màu trắng – điều này cũng thể hiện sự căm ghét của Vi Nhân đối với cái "tiểu quốc viên đạn" kia. Trong lòng ông vẫn luôn mong muốn một ngày nào đó thực hiện được tâm nguyện tiêu diệt đám người lùn đó. Trên xà ngang chính giữa khán đài duyệt binh giăng một tấm vải đỏ lớn, trên đó ghi năm chữ to "Lễ Duyệt Binh Thành Lập Tân Quân".

Đến giờ Thìn, pháo mừng nổ vang, quân nhạc tấu lên. Cùng với các quân quan mặc quân phục kiểu mới, tư lệnh trưởng quan cùng nhau cưỡi ngựa tiến vào sân duyệt binh. Sau khi xuống ngựa trước khán đài duyệt binh, họ bước lên khán đài.

"Lễ duyệt binh thành lập tân quân chính thức bắt đầu. Đầu tiên, tôi xin tuyên bố: Lục quân kiểu mới chính thức được thành lập từ hôm nay! Kính mời Tư lệnh trưởng quan, Bá tước Vi Nhân, trao quân kỳ cho tân binh." Tổng chỉ huy lễ duyệt binh, Tham mưu trưởng tân binh, Thiếu tướng Aguelon, đã dùng tiếng Hán pha lẫn tiếng Tây Ban Nha lớn tiếng tuyên bố.

Đầu tiên, Trung tá Tư Đồ Lôi, Doanh trưởng "Hỏa Thương doanh", bước tới khán đài duyệt binh, nghiêm chỉnh chào kiểu quân đội mới với Vi Nhân, rồi từ tay ông tiếp nhận lá quân kỳ tân binh màu đỏ tươi. Trung tá Tư Đồ Lôi sau đó quay người, giơ cao quân kỳ đứng giữa khán đài duyệt binh. Dưới khán đài, các binh sĩ lập tức đồng thanh hô vang: "Chiến thắng! Chiến thắng!..." Pháo mừng và quân nhạc lại một lần nữa tấu vang, biến cả sân duyệt binh thành một biển niềm vui.

Tiếp theo là nghi thức trao quân kỳ cho "Hỏa Thương doanh" và "Ngoại tịch binh đoàn". Trong đó, doanh kỳ của "Hỏa Thương doanh" cũng lấy màu đỏ làm nền, trung tâm lá cờ là hình hai khẩu Hỏa Thương bắt chéo. Trên cán cờ có ghi năm chữ đen "Tân binh Hỏa Thương doanh", một bên là chữ Hán, bên còn lại là chữ Latinh. Đoàn kỳ của "Ngoại tịch binh đoàn" ở giữa là sáu ngôi sao sáu cánh màu trắng bao quanh, được tạo thành từ hai hình tam giác cân lồng vào nhau, một đỉnh hướng lên, một đỉnh hướng xuống. Trên cán cờ có ghi bốn chữ đen "Ngoại tịch binh đoàn", một bên là chữ Hán, bên còn lại là chữ Latinh.

Sáu ngôi sao sáu cánh ở trung tâm đoàn kỳ của "Ngoại tịch binh đoàn" đại diện cho việc khi thành lập, đội quân này được hình thành từ binh sĩ của sáu quốc gia khác nhau, bao gồm Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Nga, Anh, Pháp và Phổ.

Hình sao sáu cánh, ban đầu có nguồn gốc từ phương Đông. Trong các tín ngưỡng phương Đông như Ấn Độ giáo, Bái Hỏa Giáo, các yếu tố như thuyết nhị nguyên thiện ác cũng được đưa vào. Những người nghiên cứu chủ nghĩa thần bí đã biết rằng, trong giáo lý Ấn Độ giáo có một thứ gọi là "Bối" – đó là một loại ký hiệu được sử dụng trong lúc ngồi thiền của Ấn Độ giáo và Mật tông Phật giáo, chủ yếu dùng để thờ phụng nữ thần Shakti, nên còn được gọi là "Cát Tường Luân" hoặc "Cát Tường Bối". Đồ án này được tạo thành từ các hình tam giác thuận và tam giác ngược. Hai loại ký hiệu này thường được giải thích rằng hình tam giác thuận đại diện cho thần Shiva, vị thần tối cao của Ấn Độ giáo (hay còn gọi là Đại Tự Tại Thiên); còn hình tam giác ngược thì đại diện cho nữ thần Shakti. Hai hình tam giác giao nhau tượng trưng cho sự hợp nhất của tự nhiên.

Vào cuối thời Trung Cổ, phương Tây, thông qua Tây Ban Nha làm cầu nối, bắt đầu du nhập thuật luyện kim từ phương Đông. Khi biểu tượng phương Đông này đến phương Tây, nó được các nhà luyện kim thuật sử dụng rộng rãi. Họ coi thần Mặt Trời Apollo là vàng ròng, còn các nguyên tố khác thì coi là sáu nữ thần Muses. Hình tam giác thuận đại diện cho lửa, hình tam giác ngược đại diện cho nước. Cả hai chồng lên và lồng vào nhau tạo thành ngôi sao sáu cánh, tượng trưng cho sự luân chuyển vĩnh cửu của sáu nguyên tố. Phương Tây cho rằng bí ẩn tối cao của thế giới chính là hình sao sáu cánh nằm trong một vòng tròn. Sáu đỉnh sao đại diện cho sáu loại sức mạnh cơ bản nhất, tổng hợp sáu đỉnh này chính là danh tiếng của Thượng Đế, và cũng là sự hợp nhất vĩnh cửu. Còn sáu mặt thể bên trong ngôi sao sáu cánh thì đại diện cho Thánh Mẫu và Thánh Anh. Vì họ tin rằng hình sao sáu cánh đại diện cho Thượng Đế, nên nó có thể giúp họ mở ra cánh cửa địa ngục. Ngoài việc sao sáu cánh đại diện cho Thượng Đế, phương Tây còn tin rằng hình tam giác thuận trong hình lục giác đại diện cho linh hồn Chúa Giê-su, còn hình tam giác ngược thì đại diện cho nguồn gốc vạn vật, thần Linh di chuyển trên mặt nước, là tổng hòa của mọi trí tuệ.

Theo cách giải thích thông thường, người phương Tây tin rằng hình sao sáu cánh này được coi là "Khiên của King David" – chính là chiếc khiên hình lục giác mà King David đã cầm khi đánh b���i cự nhân Thương Lý Á trong Kinh Thánh.

King David là vị vua thứ hai của Israel. Thượng Đế Jehovah đã chọn ông thay thế Saul, và hứa rằng một hậu duệ của ông (tức Chúa Giê-su Christ) sẽ vĩnh viễn cai trị ngai vàng của David. Là vua của Israel, King David rất khó hưởng thụ cảm giác "Chúa tể" độc tôn, ngạo nghễ trời đất, bởi vì dù họ có thể chỉ huy thân xác và sinh mạng của dân chúng, vẫn có một tầng người khác ở trên các vị vua, dẫn dắt tinh thần của dân chúng – đó chính là các "Tiên tri" của Israel. Các "Tiên tri" là đại diện trung thành của Thần Jehovah trên trần gian, còn các vị vua chỉ là công cụ thế tục để Thần cai quản dân chúng. King David nổi danh nhờ một lần giao chiến đánh bại cự nhân Thương Lý Á, một chiến binh thuộc tộc Phi-li-tin. Những đối thủ cao lớn, vạm vỡ, tưởng chừng vô địch như vậy dường như luôn là bậc đá lót đường đầu tiên để các thiếu niên anh hùng lập danh.

Tuy nhiên, mặc dù thiếu niên King David đã trổ hết tài năng của một võ sĩ dũng cảm, và còn là người đánh đàn hát hò bầu bạn bên nhà vua, điều này đủ thấy tố chất ưu tú đa tài văn võ của chàng. Chẳng trách người thân của Saul thoáng chốc đã bị chàng mê hoặc. Hoàng tử Ước Cầm Đơn yêu mến King David như mạng sống của mình – điều này được Kinh Thánh nhiều lần nhắc đến; công chúa Mễ Giáp cũng thầm thương trộm nhớ King David. Thế nhưng, hành động sùng bái cuồng nhiệt của dân chúng lại khiến Saul ngầm sinh nghi kỵ.

Hương mai phải trải qua giá rét mới thơm, bảo kiếm phải mài dũa mới sắc. King David vô tội bị Saul ghen ghét, nhiều lần gặp tai họa bất ngờ, nào ngờ đây lại là bài học đặc biệt mà Thần sắp đặt để tôi luyện vĩ nhân. Thần muốn hủy diệt một người, ắt phải khiến người đó hóa điên trước đã. Tiếng đàn xoa dịu của King David cũng không thể xoa dịu được Saul cuồng bạo. Saul đã cố ý phóng lao giết chết King David, nhưng chàng đã tránh được vài lần. Thậm chí hôn nhân cũng trở thành cái bẫy mượn đao giết người của Saul: nếu King David muốn lấy công chúa Mễ Giáp, chàng phải giết một trăm chiến binh Phi-li-tin. Thế nhưng King David đã hoàn thành vượt mức: chàng đánh bại tới hai trăm kẻ thù.

Lòng căm ghét King David của Saul đã đến mức không thể dung thứ. King David đã trốn thoát nhờ sự giúp đỡ của người vợ Mễ Giáp, từ đó bắt đầu cuộc đời lưu vong dài đằng đẵng. Chàng không hề muốn phản quốc, nhưng lại phải cầu xin các nước khác cho mình một nơi dung thân. Chàng đã đi thu phục thành Cơ Ira bị quân địch chiếm đóng, rồi lại bị Saul tấn công từ phía sau. Saul thề sẽ tìm ra chàng dù phải lùng sục khắp mọi nhà, nhưng King David lại hai lần bỏ qua cơ hội có thể dễ dàng giết chết Saul. Sau khi trải qua bao nhiêu hiểm nguy, khó khăn, sức hút từ nhân cách dũng cảm, cơ trí, biết tha thứ và kiên nhẫn của King David ngày càng nổi bật. Trong khi những hành vi tàn bạo của Saul khi lạm sát người vô tội trong quá trình truy đuổi King David ngày càng khiến dân chúng bất mãn và chia rẽ, càng lúc càng có nhiều người theo về với King David. Cuối cùng, Saul thua trận tự sát, King David trở thành vua của Israel.

Việc sử dụng hình sao sáu cánh làm biểu tượng đoàn kỳ của "Ngoại tịch binh đoàn", Vi Nhân không chỉ đơn thuần là dùng một ký hiệu mang ý nghĩa biểu tượng của phương Tây để thu hút sự đồng cảm từ binh sĩ ngoại quốc. Nguyên nhân chủ yếu hơn còn đến từ nhận thức từ kiếp trước của ông: một dân tộc từng trải qua nhiều gian truân, với sức mạnh đoàn kết dân tộc phi thường, đã rèn luyện nên một đội quân mà binh sĩ của họ vô cùng dũng mãnh, kiên cường, có ý chí dám chiến thắng và năng lực để chiến thắng. Đó chính là hình ảnh "Ngoại tịch binh đoàn" mà ông hằng mong muốn trong tâm trí mình.

Một sự trùng hợp đáng chú ý là, tại "Lễ duyệt binh thành lập tân quân", người đại diện nhận doanh kỳ và đoàn kỳ cho "Tân binh Hỏa Thương doanh" và "Tân binh Ngoại tịch binh đoàn" lại chính là Trung đội trưởng Thiếu úy Trình Minh Nhân của "Hỏa Thương doanh" và Trung đội trưởng Thiếu úy William của "Ngoại tịch binh đoàn".

Bản quyền đối với bản biên tập tinh chỉnh này thuộc về truyen.free.

Trước Sau
Nghe truyện
Nữ
Nam

Cài đặt đọc truyện

Màu nền:
Cỡ chữ:
Giãn dòng:
Font chữ:
Ẩn header khi đọc
Vuốt chuyển chương

Danh sách chương

Truyen.Free