(Đã dịch) Trung Thế Kỷ Vương Giả Chi Lộ - Chương 262: Hôn nhân phi pháp
Công tước Welf vui vẻ, cất cao giọng nói:
"Thưa chư vị, xin hãy giữ yên lặng để chúng ta cùng lắng nghe câu chuyện về cuộc Đông chinh do chính người trong cuộc kể lại."
Thế là, dưới hiệu lệnh của Roger, Rinaldi bước lên bắt đầu kể chuyện.
Nhưng vượt ngoài dự đoán của Roger, Rinaldi không hề nhắc lại những gì mình đã kể trước đó. Ông ta mở lời:
"Khi đó, chúng ta vừa mới đánh hạ Polynesia..."
Giọng của Rinaldi thu hút sự chú ý của tất cả những người đang có mặt, mọi người háo hức lắng nghe ông kể:
"Người Seljuk Turks rời khỏi thành Polynesia và đầu hàng Hoàng đế Đông La Mã.
Thế là, cuộc giao tranh giữa hai bên tạm dừng.
Tối hôm đó, trong khi các cuộc thương thảo liên quan đến việc tiếp nhận đầu hàng vẫn đang diễn ra, rất nhiều tù binh Cơ Đốc giáo trong tay người Seljuk Turks đã được trả tự do trước.
Trong số đó có một nữ tu được thả cùng những người khác, trở về với quân đội của Chúa Kitô.
Nữ tu này tự xưng đến từ tu viện Santa Maria ở Granada, một tu viện trực thuộc Nhà thờ Trier.
Nàng kể rằng mình đã tham gia đội thập tự chinh của Peter Người Khổ Hạnh, và sau khi đội quân đó bị đánh tan, nàng đã bị người Seljuk Turks bắt làm tù binh.
Nàng khai báo, mình đã bị những người Seljuk Turks đó, và cả những kẻ khác nữa, cưỡng hiếp một cách ghê tởm, không hề có chút ngần ngại nào.
Khi nàng giữa những người nghe Cơ Đốc giáo, đau đớn than vãn về những tội ác bất hạnh đó, một quý tộc tên là Henri, đến từ thành Aiz, có mặt trong số các quý tộc và chiến binh của Chúa Kitô, đã nhận ra nàng.
Nữ tu này cũng nhận ra Henri, nàng dùng giọng nói bi thương và trầm thấp gọi tên chàng, khẩn cầu chàng giúp nàng gột rửa tội lỗi.
Henri cảm động trước sự bất hạnh của nữ tu, chàng đã cố gắng hết sức để thỉnh cầu Công tước Godfrey khoan hồng cho nàng.
Công tước Godfrey bày tỏ lòng trắc ẩn sâu sắc.
Cuối cùng, Đức Giám mục đáng kính, Đại nhân Admar, đã đưa ra một lời đề nghị sám hối cho nữ tu này.
Đức Giám mục đích thân tổ chức nghi thức sám hối cho nữ tu, và nàng đã được tha thứ phần nào nhờ sự ăn năn thành thật.
Bởi vì nàng là nạn nhân của sự cưỡng ép, không hề tự nguyện. Nàng phải chịu đựng sự ô uế và bạo ngược đó từ những kẻ độc ác và ti tiện.
Thế là, hành vi bị coi là không trong sạch của nữ tu được tha thứ, và sự thông gian phi pháp giữa nàng và người Seljuk Turks kia cũng được bỏ qua.
Sau đó, chỉ sau một đêm ngắn ngủi.
Kẻ Seljuk Turks từng cưỡng hiếp, bắt giữ và làm nhục nàng vô vàn, đã phái sứ giả đi tìm nữ tu này.
Sứ giả nói với nữ tu rằng người Seljuk Turks kia đã bị vẻ đẹp vô giá của nàng mê hoặc khôn nguôi, và cảm thấy đau khổ vì nàng ra đi.
Người Seljuk Turks kia đã hứa hẹn với nữ tu những phần thưởng xứng đáng với lòng nàng.
Hắn thậm chí hứa hẹn rằng, nếu có cơ hội thoát khỏi cảnh tù đày và xiềng xích của Hoàng đế Đông La Mã, không lâu sau hắn sẽ cải đạo theo Cơ Đốc giáo.
Sứ giả đã hết sức thuyết phục, dùng lời lẽ hoa mỹ để hứa hẹn, mời nàng lần nữa đến với người Seljuk Turks kia để kết thành một cuộc hôn nhân phi pháp và không trong sạch.
Cuối cùng, người phụ nữ bất hạnh này – nếu trước đó nàng bị ép làm điều sai trái – thì lúc này, lại bị những lời lẽ hoa mỹ và những hy vọng hão huyền lừa gạt, vội vàng chạy về phía tên chú rể không đứng đắn kia, lao vào cuộc hôn nhân phi pháp ấy.
Ban đầu, toàn bộ quân đội Cơ Đốc giáo không hề để ý đến việc người phụ nữ này đã bị những kẻ đó dùng mưu mẹo nào mà mang đi.
Sau đó, Henri tìm nàng đã lâu mà không thấy, chàng đã tìm kiếm sự giúp đỡ từ các quý tộc khác, và nhờ đó mới tìm được tất cả những người chứng kiến toàn bộ sự việc.
Qua lời kể của những nhân chứng này, họ đã biết được tường tận sự việc đã diễn ra trước đó.
Đồng thời, họ cũng được biết rằng người phụ nữ này đã quay về bên cạnh người Seljuk Turks kia, và thậm chí còn giúp hắn thoát khỏi cảnh tù đày và xiềng xích của Hoàng đế Đông La Mã.
Sau đó, không một ai còn biết họ đã đi đâu."
Rinaldi kết thúc câu chuyện của mình.
Roger không hiểu nổi suy nghĩ của nữ tu này, không hiểu vì sao nàng lại dễ dàng tha thứ cho kẻ từng sỉ nhục và hãm hại mình đến thế, và thậm chí còn quay về giúp đỡ hắn.
Trong đầu chàng chợt hiện lên một khái niệm: hội chứng Stockholm.
Chàng cảm thấy, ngoài điều đó ra, không còn cách giải thích nào khác.
Roger chuyển sự chú ý của mình sang những người khác trên bàn.
Chàng thấy Bohemond con trai còn đang ngơ ngác.
Chàng thấy Công tước Welf chậm rãi lắc đầu, miệng 'chậc chậc' tỏ vẻ tiếc nuối.
Chẳng rõ là ông ta tiếc nuối cho sự bất hạnh của nữ tu, hay tiếc hận vì không được tận mắt chiêm ngưỡng vẻ đẹp của người phụ nữ ấy.
Roger thấy phu nhân Ada đang trầm tư, đôi mắt nàng như có sương mù bao phủ.
Chàng thấy William chăm chú nhìn phu nhân Ada, dường như không hề nhận ra câu chuyện của Rinaldi đã kết thúc.
Các quý tộc và phu nhân khác ngồi đó thì nhao nhao bàn tán, hầu hết đều đang chỉ trích sự không trong sạch của người phụ nữ này.
Có người thốt lên: "Người đàn bà này dâm đãng đến mức nào chứ!"
Người khác lại nói: "Chắc hẳn nàng không thể kiềm chế được bản thân, nên mới quay về bên cạnh kẻ đã ngược đãi mình."
Công tước Welf lấy lòng hỏi phu nhân Ada, thì thầm như một kẻ nịnh bợ:
"Phu nhân, người thấy câu chuyện này có thú vị không?"
Phu nhân Ada bừng tỉnh, nàng nhìn quanh với ánh mắt đầy cảm xúc, rồi nói:
"Đây chính là sức mạnh diệu kỳ của tình yêu!"
Roger suýt chút nữa phun ngụm rượu vừa uống vào.
Chàng đưa chén rượu lên che miệng, cố gắng nuốt xuống để không bị sặc.
Sau đó chàng nghe Công tước Welf lớn tiếng phụ họa:
"Phép màu của tình yêu vĩnh cửu, đó là thứ tình cảm chân thật và đẹp đẽ nhất, chỉ có nó mới có thể tạo nên kỳ tích."
Roger ngậm rượu trong miệng, thứ này dù thế nào cũng không thể nuốt trôi.
Chàng nghĩ, Welf à Welf, có lẽ ngươi có thể trò chuyện với Thượng Đế về chủ đề tạo nên kỳ tích.
Nhưng điều khiến Roger kinh ngạc hơn là, ngay sau khi Welf nói xong, gần như trong chớp mắt, các quý tộc và phu nhân đang ngồi đó đều thay đổi ý kiến.
Không một ai còn trách cứ sự dâm đãng của nữ tu kia nữa.
Tất cả mọi người đều ca ngợi tình yêu.
Thậm chí có người còn ngâm thơ.
Một quý tộc thì thầm khẽ:
"Up at the Stars Thou Art Gazing, o love! Would I might be Heaven, that with thousand eyes I might look back to thee. Khi ngươi ngẩng đầu ngắm nhìn những vì sao, hỡi tình yêu! Ước gì ta là bầu trời, Để với ngàn vạn mắt, ta có thể mãi nhìn ngắm lại người." (tác giả: Plato, phiên dịch: Trương Hòa Thanh)
Một quý tộc khác thì thầm khẽ:
"O love that flew so lightly, tình yêu nhẹ nhàng bay tới, O love that flew so lightly to my heart, a, tình yêu nhẹ nhàng hướng tâm ta bay tới, why are thy wings so feeble to depart? Nhưng vì sao đôi cánh người lại yếu ớt đến thế, chẳng thể bay đi?" (Meleager xứ Gadara)
Roger cuối cùng cũng không kìm được mà phun ra.
Chàng chúi đầu xuống bàn, một ngụm rượu văng tung tóe trước chân mình.
Chàng cảm thấy kinh tởm bởi những người này.
Chàng nghĩ, từng người một, đúng là nhân tài, ai nấy đều ngâm được những bài thơ hay.
Nhưng chàng biết, sự kinh tởm của mình không liên quan gì đến những bài thơ, vì thơ vẫn là thơ hay.
Chỉ là cái vẻ nịnh bợ, xu nịnh của những quý tộc và phu nhân này mới thực sự khiến chàng phát buồn nôn.
Bản chuyển ngữ này được thực hiện bởi truyen.free, một sản phẩm văn hóa được trau chuốt tỉ mỉ.